Bạn có thể trở thành doanh nhân thành đạt?
Bạn đã từng thấy rất nhiều người thành danh trong kinh doanh. Bạn ước mơ mình cũng sẽ thành đạt như họ nhưng lại rụt rè khi thấy những người đã từng “thân bại danh liệt” khi dấn thân vào thương trường. Lợi nhuận luôn là mục đích số 1 của kinh doanh.
Điều quan trọng nhất trước khi đi theo con đường kinh doanh là phải đặt ra cho mình câu hỏi: “Mình có tư duy kinh doanh hay không?”. 7 gợi ý sau đây sẽ giúp cho những ai đang định hướng đi theo con đường kinh doanh nhận định đúng hơn về bản thân cũng như khả năng thành công trong tương lai.
1. Hiểu rằng mục tiêu của kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận
Ai cũng có một sở thích của riêng mình, đôi lúc sở thích đó có thể kiếm được chút tiền. Chẳng hạn như ai đó yêu trẻ nhỏ và thích được dạy học thì việc đi dạy thêm có thể đem lại cho họ chút thu nhập nhưng với họ tiền không quan trọng bằng sở thích.
Với kinh doanh thì khác, cho dù kinh doanh có là sở thích của bạn hay không thì mục tiêu đầu tiên của kinh doanh là phải tìm kiếm lợi nhuận. Tất nhiên cũng có ai đó kinh doanh đồng nghĩa với việc làm ra lợi nhuận là sở thích của họ.
2. Suy nghĩ cho bản thân, không để cho ai nghĩ thay mình
Đừng tìm đến các chuyên gia tư vấn ngay khi bạn gặp khó khăn. Hãy dành thời gian để tự mình tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng các vấn đề sau đó tự mình đưa ra quyết định cuối cùng.
Sau đó tìm đến các chuyên gia như một sự kiểm chứng và tham khảo mà thôi. Hãy nhớ rằng tự mình suy nghĩ một vấn đề sẽ cho phép bạn biết chính xác những gì bạn muốn có và làm thế nào để có được nó.
3. Suy nghĩ chiến lược hơn về các hoạt động kinh doanh của mình
Đừng tham gia vào bất cứ công việc nào mà chưa xác định được chính xác những gì bạn nhận được từ những hoạt động đó. Hãy suy nghĩ về những gì nhận được trước khi quyết định bất cứ hành động nào.
4. Hiểu được những gì bạn cần
Đó là sự cần thiết để kết nối hoạt động kinh doanh của bạn và sự kết nối đó sẽ tạo ra lợi nhuận.
Bạn kết nối với các khoản lợi nhuận như thế nào? Tất cả đòi hỏi sự hiểu biết về ranh giới lợi nhuận, dòng tiền, lợi thế cạnh tranh, mục tiêu bán hàng và các nhân tố quyết định lợi nhuận… Lợi nhuận nhỏ khi kết nối với nhau sẽ tạo thành những khoản lợi nhuận lớn hơn.
5. Có tư duy kinh doanh tức là hiểu được chiến lược và thực thi nó
Thường chúng ta có khuynh hướng tập trung vào những nhiệm vụ thường nhật, giải quyết các vấn đề ngắn hạn và thực thi các chiến thuật tiếp thị. Đó không phải là sự tương thích tốt nhất đối với hoạt động kinh doanh của chúng ta.
Chiến lược bản thân nó liên quan tới những gì ở phía trước, nhìn vào nơi nào chúng ta sẽ đi và làm thế nào để tới được đó. Bằng cách ấy, hãy tự đặt ra câu hỏi: “Nhiệm vụ này có thích hợp với các mục tiêu tương lai của công ty cũng như với mục tiêu của chính bản thân mình trong tương lai?”.
6. Có tư duy kinh doanh tức là mở rộng cánh cửa để đa dạng hoá các nguồn thu nhập và các hoạt động kinh doanh
Một nữ doanh nhân thành công đã từng nói rằng: “Tôi có một hoạt động kinh doanh mà tôi thực sự đam mê mặc dù nó không tạo ra nhiều lợi nhuận và tôi điều hành nó. Tôi có một hoạt động kinh doanh khác tạo ra rất nhiều lợi nhuận và tôi thuê một ai đó điều hành”.
Vấn đề ở đây là bạn không phải “bỏ tất cả trứng vào một rổ” – đó là một phần của việc có được tư duy kinh doanh tốt.
7. Có tư duy kinh doanh tức là biết được cảm xúc của bạn sẽ gắn chặt với các hoạt động kinh doanh
Việc biết được cảm xúc có mối liên hệ ra sao với các hoạt động kinh doanh sẽ cho phép bạn vượt qua những rào cản cá nhân đang ngăn trở bạn. Bạn sẽ làm những gì bạn nói rằng bạn sẽ làm cũng như những gì bạn muốn làm.
Một nhà chiến lược tốt sẽ chào đón các thay đổi và biến nó thành một cơ hội mới. Nhanh chóng phản ứng với những gì không mong đợi và đương nhiên là không thể thiếu một tư duy kinh doanh tuyệt vời.
Bạn có tư duy kinh doanh?
Và để xây dựng một đường hướng kinh doanh thích hợp như thế, bạn sẽ phải là người suy nghĩ chiến lược, kèm theo đó là một tư duy kinh doanh tốt (business mindset).
Tư duy kinh doanh có hàm nghĩa rất rộng, nó bao hàm những nhìn nhận đúng đắn hơn về vai trò của các chiến lược kinh doanh, công việc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu khách hàng, các hoạt động tiếp thị, quan hệ công chúng,… Việc thay đổi lối tư duy kinh doanh ngắn hạn bằng những chiến lược có tầm nhìn xa, hay thay đổi tư duy “ai thắng ai” bằng “các bên cùng thắng” là rất quan trọng.
Bên cạnh đó, một tư duy kinh doanh tốt sẽ từ bỏ thói quen kinh doanh khép kín, thay vào đó là đối tác liên kết, hợp tác chiến lược cũng như thiết lập hệ thống “người lính gác ở xa”. Trong một số trường hợp bạn còn phải biết chấp nhận mình chỉ là một nhánh trong cả một khối tổng thể.
Tư duy kinh doanh đồng nghĩa với tư duy chiến lược. Nói cách khác, đó là khả năng nhìn xa trông rộng, giúp bạn tránh xa những sai lầm của tầm nhìn ngắn hạn. Tầm nhìn kinh doanh sẽ quyết định nhiều yếu tố khác nhau, chẳng hạn như nhân sự, khả năng thu hút người giỏi, v.v… và trên cơ sở đó quyết định sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Dưới đây là 8 minh chứng của việc có một tư duy kinh doanh:
1) Có tư duy kinh doanh tức là có một kiến thức tốt
Trước hết, có được tư duy kinh doanh tốt đồng nghĩa với việc bạn tự trang bị cho mình những vốn kiến thức cần thiết. Đó có thể là các kiến thức cần thiết mà mình rút ra từ kinh nghiệm kinh doanh bản thân hay kiến thức có được cùng với sự thay đổi của tư duy về đường hướng, luật pháp, kế toán và quản trị,…
Những kiến thức này sẽ khiến bạn trở thành một nhà chiến lược thực thụ khi bạn hội tụ đủ nó và đó là điều kiện cần trên con đường kinh doanh sau này. Hãy đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội được sở hữu nó.
2) Có tư duy kinh doanh tức là biết rằng mục tiêu của hoạt động kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận.
Đôi lúc sở thích của bạn chỉ là một sở thích, cho dù bạn sẽ có sở thích rằng kiếm thêm đôi chút thu nhập hay sở thích có một hoạt động kinh doanh với sự phát triển cao để có lợi nhuận lớn.
3) Có tư duy kinh doanh tức là suy nghĩ cho bản thân bạn, không để mọi người khác suy nghĩ cho bạn.
Đừng cho phép các chuyên gia kiểm soát các giấc mơ và vận mệnh của bạn, hãy để họ giúp đỡ bạn tới được đó. Hãy dành thời gian để suy nghĩ, tìm hiểu và nghiên cứu về các ý kiến của riêng bạn trước khi nhờ đến sự giúp đỡ của ai đó. Làm đúng như vậy, bạn sẽ được trang bị đầy đủ tất cả những thứ cần thiết để hỏi chính xác những gì bạn muốn và có được nó.
4) Có tư duy kinh doanh tức là trở nên chiến lược hơn về các hoạt động kinh doanh của bạn.
Đừng chỉ tham gia suông vào các sự kiện mạng lưới hay đảm nhận bất cứ công việc nào. Hãy xác định những kết quả bạn muốn có được trước khi đầu tư cho các hoạt động kinh doanh.
Ví dụ, bạn có biết rõ những chi phí thực sự để bạn tham gia một khoá đào tào hay một sự kiện mạng lưới: tiền bạc, gia đình, thời gian, cô trông trẻ, xăng xe,…? Để bù đắp cho khoản đầu tư bỏ ra, các lý do đầu tư của bạn phải mang nhiều ý nghĩa hơn việc gặp gỡ mọi người hay “Tôi chỉ muốn học hỏi đôi chút gì đấy”.
Tại sao? Đó là những căn cứ khi bạn tham gia một sự kiện mạng lưới (gặp gỡ mọi người) hay đào tạo (học hỏi gì đó). Mục đích của bạn cho việc tham gia bất cứ sự kiện nào thứ nhất phải thích hợp với viễn cảnh của bạn và thứ hai phải được tập trung vào yếu tố lợi nhuận. Vì vậy, hãy chắc chắn rằng bạn có một kết quả cụ thể trong tâm trí trước khi đầu tư cho các hoạt động như xây dựng mạng lưới hay đào tạo.
5) Có tư duy kinh doanh tức là biết được những gì chúng ta cần
Đó là những sự cần thiết để kết nối với hoạt động kinh doanh của chúng ta và mối kết nối đó sẽ tạo ra lợi nhuận. Bạn kết nối với các khoản lợi nhuận của bạn như thế nào? Tất cả sẽ đòi hỏi ở bạn hiểu biết về ranh giới lợi nhuận, dòng tiền, lợi thế cạnh tranh, mục tiêu bán hàng và các nhân tố quyết định lợi nhuận, …
6) Có tư duy kinh doanh tức là hiểu được chiến lược và thực thi nó trong hoạt động kinh doanh của bạn.
Những ngày này chúng ta có khuynh hướng tập trung vào những nhiệm vụ thường nhật, giải quyết các vấn đề ngắn hạn và thực thi các chiến thuật tiếp thị không phải là sự tương thích tốt nhất đối với hoạt động kinh doanh của chúng ta.
Chiến lược bản thân nó liên quan tới những gì ở phía trước, nhìn vào nơi nào chúng ta sẽ đi và làm thế nào để tới được đó. Bằng cách ấy, hãy tự đặt ra câu hỏi: “Nhiệm vụ này có thích hợp với các mục tiêu tương lai của công ty cũng như với mục tiêu của chính bản thân mình trong tương lai?”.
7) Có tư duy kinh doanh tức là mở rộng cánh cửa để đa dạng hoá các nguồn thu nhập lẫn các hoạt động kinh doanh.
Một nữ doanh nhân thành công đã từng nói rằng: “Tôi có một hoạt động kinh doanh mà tôi thực sự đam mê mặc dù nó không tạo ra nhiều lợi nhuận, và tôi điều hành nó. Tôi có một hoạt động kinh doanh khác tạo ra rất nhiều lợi nhuận và tôi thuê một ai đó điều hành nó”.
Vấn đề ở đây là bạn không phải “bỏ tất cả trứng vào một rổ” – đó là một phần của việc có được tư duy kinh doanh tốt.
Có tư duy kinh doanh tức là biết được cảm xúc của bạn sẽ gắn chặt với các hoạt động kinh doanh.
Việc biết được cảm xúc có mối liên hệ ra sao với các hoạt động kinh doanh sẽ cho phép bạn vượt qua những rào cản cá nhân đang ngăn trở bạn làm những gì bạn nói rằng bạn sẽ làm cũng như những gì bạn muốn làm.
Lần tới khi bạn có cảm xúc với hoạt động kinh doanh của mình, hãy xác định bạn đang cảm thấy những gì và điều gì khơi dậy chúng. Đây chính là cách thức để bạn bắt đầu nhận ra các cảm xúc của mình đang hạn chế bạn khỏi các hoạt động kinh doanh tốt.
Suy cho cùng, mỗi quyết định kinh doanh của bạn ngày hôm này sẽ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh bạn trong hiện tại và tương lai. Chính vì thế, hãy là một nhà chiến lược tốt – người mà nhìn vào tất cả các khía cạnh về hoạt động kinh doanh của họ ngày hôm nay đặt trong những bận tâm tới việc ngày mai sẽ như thế nào và mình đang cố gắng đi đến đâu.
Một nhà chiến lược tốt sẽ chào đón các thay đổi và biến nó thành một cơ hội mới; nhanh chóng phản ứng với những gì không mong đợi và đương nhiên là không thể thiếu một tư duy kinh doanh tuyệt vời.
Doanh nhân trẻ: Những bài học không bao giờ cũ
Trong một bài viết mà sau đó được xếp trong TOP 100 những bài báo hay nhất của tạp chí Harvard Business review của thế kỉ XX, Theodore Levitt đã chỉ ra những hạn chế trong cách tiếp cận triết lý kinh doanh hiện đại của những nhà quản lý. Đối với lớp doanh nhân trẻ hiện tại, họ có quá nhiều cơ hội để học hỏi, sáng tạo và thực hiện những ý tưởng kinh doanh của mình. Nhưng đôi khi họ lại lờ đi những bài học cũ có giá trị cho những thời điểm hoạt động kinh doanh khó khăn do suy thoái kinh tế toàn cầu.
Thay đổi khách hàng – thay đổi sản phẩm
Các nhà quản lý trẻ tuổi có thể tư duy một cách rất thực tế và đúng tính thị trường hiện nay rằng, ai có sản phẩm hay chất lượng dịch vụ tốt nhất họ sẽ là người chiến thắng và như thế họ đã sa vào lối mòn thông thường mà Theodore Levitt đã phê phán. Đó chính là việc chú trọng quá mức đến mục tiêu bán hàng, đến sản phẩm của mình mà không quên mất rằng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mới là trọng tâm của hoạt động kinh doanh. Khách hàng luôn đúng với nhận thức và lựa chọn của mình, đó là một sự thật. Không có sản phẩm nào hay dịch vụ nào là tốt hơn nhu cầu và túi tiền của khách hàng. Levitt dẫn ví dụ về Henry Ford, nhiều người cho rằng thành công của Ford xuất phát từ việc sáng tạo ra dây chuyền sản xuất những chiếc xe hơi với giá 500 USD. Nhưng Levitt cho rằng thành công của Ford không bắt đầu từ dây chuyền sản xuất mà từ việc hãng này nắm được nhu cầu rất lớn của khách hàng đối với những chiếc xe rẻ tiền. Đối với Ford, giá giảm theo nhu cầu của khách hàng, giá giảm sẽ ép chi phí giảm theo. Hãy bắt đầu từ khách hàng, bạn mới là người chiến thắng cuối cùng.
Đừng bỏ quên tiếp thị nội bộ
Cắt giảm chi phí quảng cáo, giảm nhân sự,… nhằm làm giảm bớt áp lực chi phí cho doanh nghiệp đều không phải giải pháp tốt trong thời điểm hiện tại. Levitt cho rằng, khi thị trường chạy theo quĩ đạo của nó và hình thành các phân khúc và thị phần một cách tương đối, hoặc ở trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, các doanh nghiệp sẽ nghĩ đến việc giảm chi phí. Nhưng vào đúng thời điểm các đối thủ cắt giảm chi phí quảng cáo là lúc những người quản lý doanh nghiệp cần phải chi mạnh tay hơn đối phương để giành lấy một phần lớn của thị phần đang bị thu hẹp lại. Đừng ngạc nhiên, bởi nếu doanh nghiệp sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền lớn cho quảng cáo họ sẽ giành được từ 32% đến 40% thị phần. Ngược lại, những công ty có chi phí ngang bằng với đối thủ chỉ chiếm được 23% và chỉ có 15% thị phần cho các công ty giảm ngân sách quảng cáo.
Bên cạnh đó, cần chú ý thực hiện tiếp thị hay thỏa mãn các khách hàng bên trong – các nhân viên trong công ty. Giảm nhân sự chỉ là việc đặng chẳng đừng, nhưng nếu thực hiện tốt chiến dịch tiếp thị nội bộ ngay từ đầu sẽ mang lại nhiều giá trị hơn là tốn kém. Đôi khi vì quan tâm quá mức đến việc quảng bá hình ảnh đến khách hàng bên ngoài mà người quản lý xao lãng đến khách hàng nội tại. Một điều đơn giản những nhân viên thỏa mãn và yêu thích công việc của mình, chính là những người sẽ phục vụ và thỏa mãn tốt những khách hàng của công ty. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nhân trẻ vì họ cần có sự thúc đẩy từ bên trong. Bên cạnh đó tiếp thị nội bộ còn là một kỹ thuật quan trọng trong việc giữ và phát triển các khách hàng hiện tại – một loại chiến lược quan trọng mà nhiều doanh nghiệp không chú ý, khi tập trung rất nhiều nguồn lực cho việc tìm kiếm khách hàng mới. Ví dụ tiêu biểu, giám đốc điều hành của Ikea, ông Ander Dahlvig, người luôn quan niệm rằng nhân viên của tập đoàn phải biết được giá trị công việc của mình, họ phải nắm được nguyên tắc đơn giản là mình đại diện cho điều gì mới giúp người tiêu dùng hiểu rõ giá trị của Ikea và tìm đến với họ. Kết quả là Ikea đã tăng gấp ba lần về số lượng cửa hàng và nhân viên chỉ trong 10 năm khi Dahlvig làm giám đốc điều hành. Và quan trọng hơn là trong thời điểm suy thoái kinh tế, Ikea vẫn lạc quan vào cơ hội vì họ nắm chắc rằng: Khi người ta kiếm được ít tiền hơn họ sẽ biết Ikea tượng trưng cho cái gì.
Vượt lên dẫn dắt thị trường
Trong rất nhiều trường hợp, đặc biệt là đối với các sản phẩm, dịch vụ mang tính cách mạng trong tương lai thì không người tiêu dùng nào có thể tưởng tượng được. Nếu chỉ dựa vào khách hàng doanh nghiệp sẽ gặp bất lợi lớn, trong nhiều thời điểm nếu giữ nguyên lối mòn kinh doanh hay tiếp thị như vậy, doanh nghiệp rất khó để vượt lên trên cuộc cạnh tranh giành thị trường khốc liệt. Và sự gợi ý của Theodore Levitt, là những công ty sáng tạo ra những cuộc chơi mới và qui định cách thức, luật chơi trên thị trường. Hãy để sự sáng tạo là cơ sở lợi thế cạnh tranh lâu dài chứ không phải là chạy theo những lề lối có sẵn của thị trường.
Nền móng xây dựng kinh doanh trực tuyến
Rất nhiều người đã hỏi Derek Gehl, chuyên gia phụ trách chuyên mục E-business của tạp chí Entrepreneur và CEO của Internet Marketing Center, về cách thức xây dựng và phát triển một hoạt động kinh doanh trực tuyến.
Derek trả lời họ rằng: “Có một chuỗi các bước đi đã được kiểm chứng mà bạn có thể thực hiện nhằm đảm bảo cho thành công. Làm thế nào tôi biết được? Tôi đã chứng kiến hàng nghìn người bắt đầu và phát triển các hoạt động kinh doanh trực tuyến của họ theo cùng một quy trình như nhau”.
Dưới đây là 8 bước đi thành công mà Derek đưa ra cho những ai có ý định khởi sự kinh doanh trực tuyến nhằm thu hút mọi người đến với trang web và khích lệ họ mua sản phẩm hay dịch vụ.
Bước 1: Tìm kiếm một nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu đó
Hầu hết các chuyên gia tiếp thị đều mắc sai lầm về việc tìm kiếm một sản phẩm trước khi có một thị trường. Trừ khi mọi người chủ động tìm kiếm các sản phẩm được bán trực tuyến của bạn, bạn sẽ không thể bán được hàng. Cái khó là tìm kiếm một nhóm những người đang có một vấn đề chung cần giải quyết và sau đó giải quyết giúp họ.
May mắn là internet đã khiến việc nghiên cứu thị trường trở nên dễ dàng hơn nhiều. Có một vài cách thức dễ dàng để nghiên cứu thị trường của bạn:
- Vào các diễn đàn trực tuyến để tìm xem mọi người đang đưa ra những câu hỏi nào và những vấn đề nào họ đang cố gắng giải quyết.
- Xác định các từ khoá mà rất nhiều người tìm kiếm song không có nhiều trang web có thể trả lời đầy đủ cho họ.
- Kiểm tra các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của bạn bằng việc vào trang web của họ và ghi chú lại những gì họ đang thực hiện để thoả mãn nhu cầu nào đó.
Sau khi bạn làm xong công việc này, hãy sử dụng những thông tin bạn có được để tạo ra một sản phẩm cho một thị trường đã hiện hữu, đồng thời nỗ lực làm tốt hơn các đối thủ cạnh tranh của bạn.
Bước 2: Tạo ra một bản chào hàng thích hợp
Trên trang web, nội dung thông tin của nó phải làm thay công việc bán hàng cho bạn. Có một công thức đã được kiểm chứng khi viết các bản chào hàng, giới thiệu bán hàng,… sẽ đưa những ai vào trang web của bạn đi tiếp quy trình bán hàng từ thời điểm họ đến:
- Khuấy động mối quan tâm với một tiêu đề hấp dẫn.
- Miêu tả vấn đề mà sản phẩm hay dịch vụ của bạn có thể giải quyết.
- Cho họ thấy tại sao bạn có thể được tin cậy để giao phó nhiệm vụ giải quyết vấn đề.
- Bổ sung những đánh giá từ những ai đã từng sử dụng sản phẩm của bạn.
- Nói về sản phẩm và những lợi ích nó đem lại cho người dùng.
- Đưa ra một lời mời hay một bảo đảm.
- Đề nghị mua sắm.
Xuyên suốt thông tin chào hàng này, bạn hãy tập trung vào cách thức mà sản phẩm hay dịch vụ của bạn có khả năng giải quyết các vấn đề của mọi người hay khiến cuộc sống của họ tốt đẹp hơn. Hãy suy nghĩ như một khách hàng và hỏi: “Có gì trong đó cho tôi?”.
Bước 3: Thiết kế và xây dựng trang web
Một khi bạn có được thị trường và sản phẩm của bạn, đồng thời bạn đã xác định quy trình bán hàng, đã đến lúc để xây dựng trang web.
Hãy nhớ giữ nó càng đơn giản càng tốt. Trang web của bạn chính là mặt tiền của cửa hàng trực tuyến, vì vậy hãy chắc chắn rằng nó thân thiện với các khách hàng. Bạn chỉ có không quá 10 giây để thu hút sự chú ý của mọi người trước khi họ chuyển sang trang web khác. Có một vài yếu tố quan trọng bạn cần nắm vững:
- Sử dụng những phông chữ đơn giản như Arial trên nền trắng hoặc màu sáng nhạt nào đấy.
- Trang web cần dễ sử dụng và tìm kiếm. Mọi yếu tố phải rõ ràng và đơn giản xuyên suốt trang web.
- Chỉ sử dụng hình ảnh, âm thanh hay video nếu chúng đẩy mạnh được thông điệp của bạn.
- Đưa vào các lời đề nghị chọn lựa để bạn có thể thu thập nhiều địa chỉ email.
Bước 4: Sử dụng các công cụ tìm kiếm để hướng các khách hàng mục tiêu tới trang web
Bạn lôi kéo đông đảo mọi người tới trang web mới của bạn như thế nào? Quảng cáo pay-per-click sẽ có hai lợi thế:
- Quảng cáo hiện lên trên các trang kết quả tìm kiếm ngay tức khắc.
- Chúng cho phép bạn thử nghiệm các từ khoá khác nhau, các tiêu đề khác nhau, các mức giá và phương thức bán hàng khác nhau.
Không chỉ thu hút được đông đảo mọi người trong chốc lát, mà một khi bạn xác định những từ khoá hiệu quả nhất, bạn có thể sử dụng chúng xuyên suốt bản chào hàng và các mã khoá trang web nhằm nâng cao thứ hạng kết quả tìm kiếm của trang web.
Bước 5: Xây dựng danh tiêng chuyên môn cho bản thân để thu hút đông đảo mọi người hơn tới trang web.
Mọi người sử dụng internet để tìm thông tin. Nếu bạn cung cấp các thông tin giá trị cho các trang web khác sử dụng – và bao gồm cả đường link ngược lại trang web của bạn – bạn sẽ lôi kéo được đông đảo mọi người hơn và cải thiện đáng kế thứ hạng kết quả tìm kiếm. Có một vài ý tưởng cho việc xây dựng danh tiếng chuyên gia cho bản thân bạn:
- Đưa ra những bài viết, video hay các thông tin hữu ích khác rất có giá trị với mọi người và phân bổ các nội dung đó thông qua những trang web tin tức hay các thư viện bài viết trực tuyến.
- Đưa vào đường link “gửi tới người thân” tại các bài viết hay trên trang web của bạn.
- Trở thành một chuyên gia tích cực trong các diễn đàn của ngành hay trong các trang mạng xã hội nơi mà có đông đảo các khách hàng mục tiêu của bạn.
Nếu bạn sử dụng các chiến thuật này, bạn sẽ tiếp cận được nhiều người đọc mới. Thậm chí tốt đẹp hơn khi các trang web bạn đăng nội dung thông tin của bạn có đường link dẫn tới trang web của bạn. Các công cụ tìm kiếm trực tuyến rất yêu thích các trang web tương thích liên quan, do đó sẽ đánh giá cao hơn thứ hạng trang web của bạn.
Bước 6: Sử dụng sức mạnh của tiếp thị email để giữ liên lạc với mọi người và biến họ thành khách hàng
Khi bạn xây dựng một danh sách chọn lựa (opt-in list), bạn đang tạo ra một trong những tài sản giá trị nhất mà các hoạt động kinh doanh trực tuyến có thể có – sự cho phép gửi email tới mọi người. Tại sao tiếp thị email lại có giá trị lớn như vậy?
- Bạn đang đưa ra cho các khách hàng tiềm năng điều gì đó họ đề nghị.
- Bạn đang phát triển mối quan hệ lâu dài với mọi người trong thị trường mục tiêu của bạn.
- Phản hồi là có thể đánh giá được 100%.
- Nó rẻ và hiệu quả hơn nhiều so với các quảng cáo in, quảng cáo truyền hình hay radio vì nó có tính mục tiêu cao.
- Nó có thể được thực hiện tự động hoàn toàn.
Bất cứ ai vào trang web của bạn và lựa chọn tham gia vào danh sách của bạn luôn là những khách hàng tiềm năng nhất. Và không có công cụ nào tốt hơn email để bạn tiếp xúc hiệu quả với các khách hàng này.
Bước 7: Tăng thu nhập của bạn thông qua việc khích lệ lòng trung thành
Một trong những nguyên tắc tiếp thị internet quan trọng nhất đó là phát triển các giá trị bền vững tới từng khách hàng. Ít nhất 36% trong số những người đã từng mua sản phẩm hay dịch vụ của bạn sẽ mua lại lần nữa nếu bạn duy trì các tiếp xúc với họ sau đó. Cách thức để các khách hàng quay trở lại đó là:
- Cung cấp các sản phẩm bổ sung cho lần mua sắm ban đầu của họ.
- Gửi đi các cuống phiếu lòng trung thành điện tử mà họ có thể sử dụng trong lần mua tiếp theo.
- Đưa ra các sản phẩm có liên quan trên trang “cảm ơn” của bạn.
Nếu các khách hàng trung thành thấy rõ những lợi ích của mình, họ sẽ trung thành hơn với bạn trong tương lai.
Bước 8: Bắt đầu một chương trình liên minh để gia tăng doanh số và lợi nhuận
Một khi kinh doanh bắt đầu đi vào ổn định, đã đến thời điểm để thực hiện một chương trình liên minh. Các đối tác liên minh này là những người xúc tiến sản phẩm của bạn trên trang web của họ với một mức cắt giảm giá bán. Mỗi lần họ gửi tới bạn một người mua, bạn trả cho họ một khoản hoa hồng.
Chương trình liên minh là phương thức đơn giản và dễ dàng để phát triển kinh doanh trực tuyến. Một khi bạn xây dựng được một chương trình, tất cả những gì bạn phải làm đó là chia sẻ các tài liệu tiếp thị với các đối tác và gửi tới họ các tấm séc khi họ bán được hàng cho bạn. Bằng việc này, bạn không phải đi ra ngoài và bỏ ra cho quảng cáo – các đối tác của bạn sẽ quảng cáo cho bạn.
Internet đang thay đổi nhanh chóng, những những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và phát triển kinh doanh trực tuyến dường như không mấy thay đổi trong hơn 10 năm qua.
Nếu bạn có ý định bước chân vào thế giới kinh doanh trực tuyến, hay quan tâm tới các chuỗi hành động theo các nguyên tắc cụ thể như trên. Còn nếu bạn đã ở trong thế giới đó, hãy dành thời gian nhìn lại và xem xét xem liệu có bước đi nào bạn bỏ qua hay không. Bạn sẽ không thể đi sai đường với những nền móng cơ bản này.
Hermes (BWPortal/ Entrepreneur)
Nhà sản xuất và hệ thống bán lẻ – Trade Marketing
Lịch sử của retail store bắt nguồn từ anh quốc, trong 1 thị trấn nhỏ, vắng lặng, không ồn ào tại các khu công nghiệp như Newcastle, Galstow. Sản phẩm bán tại những cửa hàng này thường được đựng trong những thùng hoặc những túi lớn, chủ cửa hàng thường bán những sản phẩm mà họ mua lại của các thương gia cùng với những sản phẩm của riêng cửa hàng của họ như mứt, bánh cookie, thịt heo xông khói, xúc xích. Những thực phẩm này được gói vào những túi giấy đơn giản, không brand name, không tên cửa hiệu. Dần dần, để thuận tiện hơn những cửa hàng grocery này đã đóng gói thực phẩm của họ từ trước để tạo sự khác biệt với những cửa hàng khác.
Các đại gia trong việc mass production dần dần xuất hiện (vd: P&G, unilever), hàng hóa sản xuất hàng loạt và cần sự phân phối của retailer. Và các retailers đã quên đi nguồn gốc của họ, trở thành 1 kênh phân phối và cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Manufacturer say mê tìm hiểu và phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng mà không thèm quan tâm đến sự hiện diện như cầu nối của các retailers, retailers lúc này chẳng khác nào “nhà kho” của manufacturer, hết sức thụ động đề cho các manufacturer điều khiển mình.
Nghiên cứu thị trường thế giới nói rằng, 3 cty sản xuất hàng đầu chiếm giữ khoảng hơn 50% market share, nhưng đại gia hàng đầu chỉ chiếm khoảng vài % shelf-share trong 1 siêu thị.
Trên thế giới, các retailers đang dần dần lấy lại sức mạnh và thế chủ động của họ, họ không còn là nhà kho và là cây cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng nữa. Retailer đang chuyển dần sang hướng phát triển thương hiệu cho riêng họ, và cty sx hàng tiêu dùng trở thành nhà cung cấp cho retailers.
Ở Việt Nam, retailers vẫn còn khá thụ động trong vai trò xây dựng một brand riêng cho hệ thống bán lẻ của họ, retailer vẫn còn thuần túy là “nhà kho” và “cầu nối” giữa 2 bên sx và tiêu dùng. Gần đây, tại Metro bắt đầu lác đác xuất hiện những thương hiệu riêng của Metro, nhưng thật đáng tiếc là những sp này lại bị trưng bày ở những vị trí không tốt, không đúng ngay eyes-level.
Có lẽ thời đại retailer ở Việt Nam vùng lên, dành độc lập, tự do sẽ còn không xa. Sẽ rất sớm, các tập đoàn bán lẻ lớn của thế giới sẽ đổ bộ vào Việt Nam, thiết lập liên doanh hoặc acquire những chuỗi bán lẻ hiện tại, vertical integration và sẽ tạo sức ép lên các nhà sx hàng hóa.
Trade marketing lúc này cũng sẽ rất quan trọng, quan trọng chẳng kém consumer marketing tại các cty sx hàng tiêu dùng. In store marketing cũng sẽ quan trọng chẳng kém out of store marketing, và hàng loạt Key Account Manager sẽ ra đời để o bế các nhà retailers khó ở.
Kỷ nguyên của bán lẻ, sự giao du và Internet
rong một cuộc phỏng vấn đặc biệt dành cho E-xecutive, Rudelius William đã nói về vai trò của marketing, xu hướng phát triển hiện đại và sự ứng dụng chúng. Rudelius William hiện là giáo sư giảng dạy tại trường Carison thuộc Đại học tổng hợp Minnesota, giáo sư thỉnh giảng trường kinh doanh Kiev – Mogilian, tác giả cuốn sách “Cơ sở Marketing” đã được tái bản lần thứ 8 , tác giả tầm nhìn “bốn điểm” trong marketing và vai trò của nó trong chiến lược công ty. Rudelius William là một cây đại thụ trong lĩnh vực marketing chuyên về phương pháp giao tiếp có hiệu quả với khách hàng, sự tự tiếp thị, vai trò của nhà sản xuất và phân phối trong khâu tiêu thụ sản phẩm và các khuynh hướng khác bền vững hơn trong marketing hiện đại.
E-xecutive: Những nhân vật và sự kiện nào trong 5 năm gần đây có ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển của marketing?
Rudelius William: Trước hết, hiệu quả của quảng cáo bị giảm sút một cách nhanh chóng trên các phương tiện chủ yếu như TV và phương tiện thông tin đại chúng khác do tốc độ phát triển của các kênh thông tin cũng như của công nghệ. Chính những điều này đã cô lập quảng cáo. Kết quả là, các doanh nghiệp đã phải chuyển sang sử dụng các công cụ mang tính cá nhân hóa trong giao tiếp với khách hàng: gửi trực tiếp, marketing virus (truyền miệng), catalogue…
Giá cả nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cũng giảm xuống nhờ có sự xuất hiện của các website kiểu như www.Priceline.com và www.ebay.com, đặc biệt là trong việc mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn và mua các hàng hóa sử dụng cá nhân. Mặt khác, các công ty đã bị quá tải vì lượng thông tin về các hình thức hạ giá hoặc các chế độ ưu đãi đặc biệt, vì vậy, càng ngày, việc tiếp cận với người tiêu dùng càng trở nên khó khăn hơn.
Điều quan trọng là phải đánh giá được sự thay đổi vai trò của nhà sản xuất và phân phối trong quá trình bán hàng. Ngày nay, sự thành công của sản phẩm trong khâu bán lẻ phụ thuộc nhiều vào ý chí của những người làm công tác phân phối. Còn nhà sản xuất buộc phải chi trả “phí vào cửa” cho việc giữ chỗ trên kệ hàng, cũng như phải trả “tiền phạt” nếu như hàng hóa bị ế ẩm.
Hơn nữa, ngày nay, sự phát triển của Internet cho phép nhà sản xuất có thể tạo ra hàng hóa mang tính chất cá nhân cho nhiều phân khúc thị trường và thậm chí là cho từng người tiêu dùng riêng biệt.
E-xecutive: Theo Ông thì marketing là chức năng chiến lược hay là chức năng hỗ trợ?
Rudelius William: Tôi coi marketing như là một quá trình có hai bước: bước thứ nhất – tìm hiểu xem người tiêu dùng tiềm năng cần cái gì và mong muốn điều gì; thư hai – đưa ra sản phẩm đáp ứng các nhu cầu và mong muốn này. Như vậy, marketing là chức năng quản lý nền tảng không thể htiếu đối với bất cứ công ty nào. Nhưng mối tương quan về số lượng nhân viên chịu trách nhiệm mảng tiếp thị và bán hàng trong công ty thường dao động trong sự phụ thuộc vào ngành hàng.
Ví dụ, trong công ty kiểu như Nestle, các nhân viên marketing và bán hàng là thành phần nhân sự chủ yếu. Ngược lại, trong công ty kiểu như Boeing – nhân viên marketing và bán hàng chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Thậm chí ở một số nơi, nếu công tác marketing không hiệu quả thì việc nghiên cứu thị trường có thể dẫn đến thảm họa. Vì vậy, công ty nào chú ý lắng nghe khách hàng nhiều hơn thì công ty đó có nhiều khả năng thành công về marketing hơn.
E-xecutive: Ông quan niệm như thế nào về marketing “truyền miệng”?
Rudelius William: Các nghiên cứu chỉ ra rằng, “marketing truyền miệng” là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để chiếm lĩnh thị trường. Nếu như người thân và bạn bè kể về sự tuyệt vời của sản phẩm này hoặc sản phẩm khác thì xác suất mua hàng của bạn sẽ tăng lên. Và ngược lại, tiếng xấu có thể giết chết sản phẩm.
Thông thường, “marketing truyền miệng” hoặc “marketing virus” được chấp nhận như là một chiến lược quảng bá sản phẩm thông qua Internet mà trong phạm vi đó, các cá nhân có thể gửi thông điệp do công ty soạn ra cho người thân và bạn bè qua e-mail. Nhưng “marketing virus” có nhiều điểm khác biệt hơn: từ cách phổ biến thông tin qua người quen cho đến việc đề nghị chiết khấu và mẫu thử miễn phí để tạo ra sự đồn thổi. Sự lan truyền của tiếng đồn tăng lên hàng ngày nhờ có các diễn đàn, sự trao đổi chương trình và trang web – những công cụ cho phép người tiêu dùng so sánh các loại hàng hóa với nhau. Ví dụ, loạt phim 5 phút được phát tán lên Internet bởi công ty BMW 3 năm trước đây đã đạt được hiệu quả tuyệt vời. Nhưng để đạt được hiệu quả này, marketing cần phối hợp sản phẩm, sự sáng tạo và mối quan hệ tâm lý bền chặt của người tiêu dùng với sản phẩm.
E-xecutive: Đề tài của bài phát biểu gần đây nhất của ông là “Marketing bản thân”. Điều gì là nội dung cơ bản về “Marketing tự thân”?
Rudelius William: Đây là câu hỏi rất thú vị mà ngày nay các sinh viên mới tốt nghiệp ra trường thường đặt ra. Chúng tôi đã soạn thảo một chương riêng biệt dài hai trang nói về đề tài này cho sinh viên học tập. Với sự giúp đỡ đơn giản này, chúng ta có thể đưa ra một chiến lược marketing hiệu quả cho từng cá nhân. Nó bắt đầu từ phân tích SWOT (điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – nguy cơ) thông thường, được sử dụng riêng cho con người chứ không phải cho công ty. Sau đó, theo kết quả phân tích, chúng ta có thể soạn thảo kế hoạch marketing cá nhân trên cở sở “4P”:
- Product – tăng cường “sự lôi cuốn thị trường” mang tính chuyên nghiệp với sự hỗ trợ của chương trình đào tạo và thực tập.
- Giá – Khung tiền lương mong muốn
- Chiêu thị – Bảng tự giới thiệu, thư đính kèm, dự án, chuẩn bị phỏng vấn.
- Phân phối – Bạn năng động đến đâu và vị trí địa lý gần nhà tuyển dụng lao động đến mức nào.
Trong “Marketing bản thân” (marketing tự thân), điều quan trọng là phải nhớ việc người ta đánh giá chuyên môn trong một mức nào đó giống như là hàng hóa, và quan trọng phải biết không chỉ chứng tỏ mình ở khía cạnh tốt nhất mà còn chứng minh khả năng cạnh tranh của mình.
E-xecutive: Nếu như quay trở lại với các khuynh hướng trong marketing, những khuynh hướng nào có tính chất dài hạn?
Rudelius William: Có một số xu hướng như vậy. Về tổng thể, chúng gắn liền với sự thông tin hóa trong xã hội chúng ta. Trước hết, đó là sự phổ biến rộng rãi của các nhóm “chức năng chéo”, khi mà những chức năng này, như marketing, công nghệ, sản xuất và nghiên cứu, hợp tác với nhau để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Khuynh hướng “địa phương hóa” (toàn cầu + địa phương) cũng tương tư. Sản phẩm và dịch vụ ngày nay thường được bán tại nhiều quốc gia. Một mặt, chiến lược “hỗn tạp” cho phép sử dụng các lợi ích của tiêu chuẩn hóa (một loại hàng hóa giống nhau cho tất cả thị trường), nhưng mặt khác – sự thích nghi với thị trường địa phương (một vài tính chất của sản phẩm là độc nhất đối với thị trường khác).
Nhu cầu sử dụng năng lượng sản phẩm sẽ có ý nghĩa quyết định nhiều hơn, hàng hóa khi sản xuất hoặc tiêu dùng sử dụng nhiều năng lượng trong tương lai sẽ bị loại bỏ hoặc bị thay thế. Mức độ tiêu thụ năng lượng là rất quan trọng.
Sự phát triển hệ thống bán lẻ sẽ tiếp diễn vì nhu cầu của người tiêu dùng tăng lên trong mối quan hệ chặt chẽ với giá cả và chất lượng sản phẩm. Những người khổng lồ như IKEA, Wal-Mart và Home Depot sẽ từng bước chiếm lĩnh thị trường bán lẻ, kéo theo một loạt các vấn đề xã hội. Theo đó, kiểu “bán hàng trộn lẫn” (scrambled merchandising) sẽ chiếm lĩnh các cửa hàng bán lẻ kiểu mới. Ví dụ, trạm xăng dầu ngày nay không chỉ bán xăng, và tất cả các công ty, thậm chí là nhỏ xíu, cũng lần hồi lôi kéo người tiêu dùng và bán cho họ tất cả những gì có thể.
Và cuối cùng – sự ảnh hưởng của công nghệ đối với người dân các nước phát triển sẽ tăng lên. Như vậy, giờ đây, sự nhận dạng bằng tần số radio (RFID) sẽ thay thế cho mã vạch, còn sự hội tụ dẫn đến sự xuất hiện điện thoại chụp hình và các thiết bị khác tích hợp vào đó các chức năng điện thoại, chụp hình, truy cập internet, nghe nhạc v.v… Nhờ có công nghệ Nano, ngành công nghiệp sensor không dây sẽ phát triển mạnh mẽ.
Hermes (BwPortal)
Hướng phát triển nào cho kênh phân phối ở Việt Nam
Kinh doanh phân phối và bán lẻ là một trong những nội dung thảo luận hết sức chi tiết và gay cấn trong quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO. Theo kết quả đàm phán, đến đầu năm 2009 các doanh nghiệp nước ngoài được tự do gia nhập thị trường Việt Nam. Trong quá trình 12 tháng tới, các doanh nghiệp Việt Nam đang chuẩn bị như thế nào? Người tiêu dùng thường biết nhiều hơn đến ngành bán lẻ, đó là các cửa hàng, siêu thị từ nhỏ nhất như một quầy bán thuốc lá trên hè phố cho đến chuỗi siêu thị khổng lồ của Metro. Tuy nhiên, có một ngành thường không lộ diện ồn ào nhưng lại có lợi nhuận và qui mô rất lớn: phân phối.
Phân phối là ngành có lợi nhuận cao
Mô hình Stan ShihNgười sáng lập ra công ty máy tính Acer của Đài Loan đã đưa ra một mô hình mang tên ông, gọi là “Nụ cười Stan Shih”.
Trong mô hình thể hiện chuỗi giá trị gia tăng, ngành gia công lắp ráp có giá trị gia tăng thấp nhất. Ở một phía, sản xuất linh kiện và phụ kiện có giá trị gia tăng cao hơn, nghiên cứu và thiết kế sản phẩm có giá trị gia tăng cao nhất. Ở phía bên kia, ở đỉnh cao của giá trị gia tăng là phân phối, bán lẻ, và dịch vụ.
Mô hình của Stan Shih đưa ra cho ngành điện tử, nhưng đã được kiểm chứng ở nhiều ngành sản xuất khác và đã trở thành kinh điển trong các chương trình quản trị kinh doanh.
Một ví dụ rất dễ thấy. Người sáng lập ra hãng Microsoft trở thành giàu nhất thế giới nhờ ngự trị đỉnh cao bên trái của mô hình. Trong khi đó, gia đình giàu nhất thế giới là Walton, lại đang ngự trị ở đỉnh cao bên phải với chuỗi phân phối và bán lẻ Wal-Mart.
Không dễ tham gia ngành phân phối
Theo số liệu của tổ chức nghiên cứu thị trường Research & Markets (Ireland) thì trong năm 2006 giá trị thị trường của ngành phân phối đã lên đến 3,6 ngàn tỉ USD.
Trong khi mọi doanh nghiệp lớn nhỏ đều có cơ hội tham gia ngành bán lẻ, thì không phải ai cũng tham gia được vào ngành phân phối. Ở mỗi nước, trong khi một sản phẩm có thể xuất hiện ở hàng chục ngàn điểm bán lẻ, thì mỗi nhà sản xuất thường chỉ có vài nhà phân phối được lựa chọn rất kỹ lưỡng với các điều khoản hợp đồng hết sức chặt chẽ. Đó là điều dễ hiểu vì các doanh nghiệp phân phối đóng vai trò một cầu nối sinh tử giữa nhà sản xuất và thị trường.
Điều này lại càng quan trọng đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn nhập khẩu sản phẩm vào trong một nước. Những doanh nghiệp càng lớn thì càng đòi hỏi nhà phân phối cũng phải có qui mô vốn tương ứng với doanh số, và phải đủ năng lực tài chính cũng như uy tín để “chơi” theo luật quốc tế.
Rất tiếc là Việt Nam hiện chưa có nhiều nhà phân phối như vậy.
Các điểm yếu của ngành phân phối Việt Nam
Do ngành phân phối của Việt Nam chưa mạnh và chưa chuyên nghiệp, nên hiện nay có những nguyên lý căn bản của phân phối đang bị vi phạm mà cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đang tạm thời phải chấp nhận.
Thứ nhất, đó là hiện tượng chồng lấn giữa phân phối và bán lẻ. Một ví dụ là bắt đầu từ tháng 4/2007 công ty FPT tuyên bố bắt đầu tham gia thị trường bán lẻ điện thoại di động. Nhưng FPT cũng đang là nhà phân phối điện thoại di động Nokia, Motorola, Samsung…
Một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (theo luật Cạnh tranh của Việt Nam thì một doanh nghiệp chiếm trên 30% thị trường được coi là có vị trí thống lĩnh) lại đồng thời thực hiện cả phân phối và bán lẻ là điều không dễ chịu đối với các doanh nghiệp bán lẻ khác. Các cơ quan kiểm soát cạnh tranh nhiều nước đã có những qui định rất cụ thể một doanh nghiệp chỉ được phép làm như vậy ở qui mô nào và với tỉ lệ bao nhiêu.
Thứ hai, do thiếu các nhà phân phối đủ năng lực nên hiện nay một doanh nghiệp có thể phân phối nhiều sản phẩm cạnh tranh với nhau. Trường hợp FPT phân phối điện thoại di động cho cả Nokia, Motorola, và Samsung như trên là một trong các ví dụ. Tất nhiên các nhà sản xuất không cảm thấy dễ chịu với điều này và họ không ngừng tìm kiếm cơ hội để có nhà phân phối riêng cho sản phẩm của họ.
Thứ ba, cũng như trong bán lẻ, ngành phân phối phải có cạnh tranh. Cạnh tranh sẽ bảo đảm việc phân phối có hiệu quả với chi phí thấp nhất, từ đó cả nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng được lợi. Cũng ví dụ về FPT cho thấy ở Việt Nam chưa có nhiều doanh nghiệp đủ mạnh, về vốn cũng như về uy tín, để có thể tạo ra môi trường cạnh tranh trong ngành phân phối.
Các đại gia Việt Nam cần vào cuộc sớm
Tháng 4/2007, Nokia công bố chọn thêm một nhà phân phối mới: Công ty Du lịch và Dịch vụ Dầu khí Petrosetco (thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam).
Lập tức, đại gia Petrosetco rủng rỉnh tiền bạc tập hợp ngay một đội ngũ chuyên gia hàng đầu, với cả những tên tuổi tốt nghiệp cao học ở Harvard (vốn còn hiếm hoi ở Việt Nam) để vào trận.
Đây là một tin vui cho thị trường. Người tiêu dùng và doanh nghiệp bán lẻ nhìn thấy kênh phân phối từ nhà sản xuất đã thêm rộng mở và thêm tính cạnh tranh.
Các nhà sản xuất thấy có thêm các đại gia của Việt Nam nhìn nhận được cơ hội và tham gia vào ngành phân phối.
Các nhà đầu tư nhìn thấy thêm cơ hội khi thêm doanh nghiệp Việt Nam được chấp nhận vào sân chơi của các đại gia quốc tế.
Chỉ đơn giản vài con số: lượng điện thoại di động mới sẽ bán ra ở thị trường Việt Nam trong năm 2007 khoảng 9,5 triệu chiếc. Với giá bình quân 2 triệu đồng một chiếc, doanh số bán điện thoại di động ước tính là 19 ngàn tỉ đồng. Nếu khâu phân phối chỉ hưởng hoa hồng 1,5% thì số tiền thu được của ngành phân phối điện thoại di động đã là 285 tỉ đồng (chưa tính đến hoa hồng hay lợi nhuận của khâu bán lẻ.)
Còn 12 tháng nữa là đến thời hạn các “đại gia” nước ngoài vào cuộc. Họ đang nhìn thấy những gì: Năm 2006, công ty tư vấn AT Kerney đã xếp hạng thị trường phân phối và bán lẻ Việt Nam đứng thứ nhì thế giới về triển vọng. Ngày 9/4/2007, Tân Hoa xã đưa tin tập đoàn phân phối bán sỉ Metro Cast & Carry tại Việt Nam đang có mức tăng trưởng 47%/năm.
Những “đại gia” của Việt Nam như Petrosetco đang nhanh chân chiếm chỗ đứng trên thị trường phân phối. Còn những đại gia khác thì sao? Thời gian không còn nhiều.
Thêm một điểm nữa: ngành phân phối Việt Nam mạnh lên không chỉ đơn thuần là lợi nhuận của phân phối, mà còn giúp các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam mạnh lên khi tránh được bất lợi phải đối đầu với độc quyền.
Để bán được hàng cần quảng cáo hay phân phối?
Điều đáng bàn hơn ở đây, chính là với các doanh nghiệp Việt Nam. 700 ngàn, một triệu USD thực sự là cả một gia tài, thậm chí còn vượt qua cả tổng vốn đầu tư của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Lam sao để tồn tại và phát triển với tiềm năng hạn chế, với sự cạnh tranh ngày một khốc liệt trên thị trường?
Câu trả lời nằm ở chính chúng ta: Càng ít tiền đầu tư cho thị trường, doanh nghiệp Việt Nam cần sáng tạo hơn trong chiến lược phát triển. Nói một cách ngắn gọn: Sức sáng tạo sẽ giúp con nhà nghèo!
1. Không quảng cáo, hàng tôi không được bán?
Đúng và không đúng!
Sẽ rất khó bán hàng tới các cửa hiệu, cũng rất khó để người tiêu dùng cuối cùng lựa chọn mua hàng nếu không có quảng cáo.
Tuy nhiên, tuỳ bản chất của hàng hoá, tuỳ thuộc động thái mua hàng và nhận thức của người tiêu dùng mà chúng ta có nhiều cách lôi kéo người tiêu dùng. Chúng ta biết rằng, khoảng 35-75% người tiêu dùng quyết định lựa chọn chủng loại và thương hiệu tại quầy hàng. Khi đó, họ ảnh hưởng bởi cách trừng bày bắt mắt của sản phẩm, các chương trình khuyến mại tại chỗ, lời giới thiệu của người bán hàng… Nếu chúng ta không quảng cáo, ngân sách khiêm tống của chúng ta sẽ dùng để tác động tới các yếu tố đó.
Và cũng không hẳn quảng cáo mạnh mẽ, liêu tục sẽ chắc chắn giúp doanh nghiệp bán được hàng. Nếu thông điệp truyền thông sai, tiền quảng cáo sẽ vô nghĩa, thậm chí phản tác dụng. Lại quay về trường hợp chưa thành công của công ty bia nọ, với hơn 40 tỷ đồng được chi cho quảng cáo trong vài tháng đấu khi tung sản phẩm ra thị trường. Tại sao họ thất bại? Bên cạnh các điều đáng bàn cãi về kênh phân phối, định vị sản phẩm, thói quen tiêu dùng…Họ còn sai lầm trong thông điệp quảng cáo. Thật vậy, khi định vị sản phẩm của mình cho các thương gia thành đạt với lứa tuổi trên dưới 40 (hoặc ít nhất, với cách định giá, họ muốn cạnh tranh trực tiếp với một loại bia H. Dành cho người thành đạt), quảng cáo của họ lại hết sức thanh niên tính – nơi mà loại bia khác, với thương hiệu T. Đang phục vụ.
Không chỉ có con đường quảng cáo, chúng ta còn có những con đường khác, hiệu quả hơn, độc đáo hơn để xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp A. Đã cực kỳ thành công với cách đi riêng của mình. Không quảng cáo, nhưng thông qua các hội đấu giá từ thiện, thông qua việc đăng cai tổ chức các sự kiện “hot” nhất trong thời gian qua- thi hoa hậu, thi tiếng hát truyền hình, mời cả cựu phó tổng thống chế độ Sài Gòn xúc tiến đầu tư,…họ đã xây dụng được một hình ảnh cao cấp, năng động, đẳng cấp quốc tế mà mọi doanh nghiệp khác đều thèm muốn.
Đúng và không đúng!
Từ nào của mọi ngôn ngữ phổ cập nhất trên toàn thế giới? Đó là từ OK. Thế còn từ nào được phổ cập thứ nhì? Câu trả lời không có nhiều người biết, đó chính là từ Coca Cola!!!
Yêu tố nào đã giúp Coke thành công rực rỡ như vậy (với giá trị thương hiệu gần 70 tỷ USD trong 2 năm liền)? Câu trả lời nằm tại kênh phân phối! Bất kỳ ở đâu người tiêu dùng cần, ở đó có Coke. Kênh phân phối là một trong 3 yếu tố (Available Accessible, Affordble) đã giúp Coke thành công rực rỡ như ngày hôm nay.
Rất nhiều công ty Việt Nam biết mình, biết người, với năng lực tài chính có hạn đã chọn phương án tập trung phát triển kênh phân phối, và họ đã thành công. Với đội ngũ nhân viên bán hàng cần cù, chăm chỉ, với các chính sách bán hàng và chiết khấu hợp lý đã thực sự kích thích nhà phân phối và người kinh doanh trở thành đồng minh, với các chương trình khuyến mãi hấp dẫn cho kênh phân phối và người tiêu dùng,…họ đã lặng lẽ từng bước xây dựng thị trường một cách vững chắc.
Với chi phí cho một Spot 30 giây trên VTV3 giờ cao điểm khoảng 30-35 triệu đồng, sẽ chưa có hiệu ứng tốt cho sản phẩm, kể cả quảng cáo 10 spot liện tục. Nhưng cũng với số tiền đó, doanh nghiệp có thể tạo được một xung động đáng kể trong toàn bộ hệ thống phân phối của mình, với sản lượng và thị phần tăng tức thì.
Không chỉ các công ty trong nước, mà rất nhiều đại gia nước ngoài cũng đã chọn con đường tập trung phát triển kênh phân phối. Trong một số ngành hàng đặc thù, như yêu cầu kỹ thuật cao (thiết bị bưu chính viễn thông, thiết bị khoa học kỹ thuật,…) hay đòi hỏi nhiều công nợ (công trình xây dựng),… khi đó nhà phân phối có tiếng nói quyết định trong việc cung cấp chủng loại mặt hàng nào đó. Với các trường hợp này, nhà sản xuất thường xoa tay hai lòng, ngay sau khi lựa chọn được một tác phân phối có năng lực. Có thể nói, trong trường hợp này, sức mạnh của nhà phân phối, cộng với sức mạnh thương hiệu đã trở thành sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Tuy nhiên, thông thường với cách đi này, doanh nghiệp thường mất nhiều thời gian để có một chỗ đứng trong thi trường. Điều này còn ngày một nguy hiểm hơn nữa, trong thời đại “Time is money-thời gian là tiền”. Nhiều khi, vì quá chậm, quá chắc mà không biết bao nhiêu doanh nghiệp đã mất thị trường, mất cơ hội làm ăn. Bên cạnh đó, nếu kênh phân phối, sự thành công chỉ đến với những doanh nghiệp có sản phẩm với chất lượng tốt và ổn định- “Hữu xạ tự nhiên hương”
Vậy, con đường nào phù hợp nhất với các doanh nghiệp Việt Nam?
Tại Mỹ và Tây Âu, khi phân tích những nguyên nhân chính dẫn tới sự thất bại của các sản phẩm mới tung ra trên thị trường con số thống kê đã chỉ ra:
- 30% do định vị thị trường sai.
- 30% do không đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của người tiêu dùng.
- 30% do không có đủ chương trình quảng cáo và khuyến mại phù hợp.
- 10% do kênh phân phối yếu.
Khi nhìn những con số trên chắc hẳn phần lớn chúng ta sẽ nhầm tưởng kênh phân phối chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong sự thành bại của một sản phẩm, và qua đó, cho một công ty. Tuy nhiên, thị trường và người tiêu dùng Việt Nam hoàn toàn khác với những nước phát triển, với hàng trăm nghìn các cửa hiệu bán hàng phân bố từ thành thị tới nông thôn, luôn đáp ứng nhu cầu hằng ngày của người tiêu dùng. Khác hẳn với hành vi mua hàng tại các nước phát triển, ngươi tiêu dùng Việt vẫn có thói quen mua hàng hằng ngày, thay vì tới siêu thị vào ngày cuối tuần để mua hàng đủ dùng cho cả tuần. Vì vậy, hệ thống các cửa hàng gần nhà đang đóng một tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống phân phối của thị trường Việt Nam. Do đó, kênh phân phối đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thành bại của mỗi doanh nghiệp Việt Nam.
Sẽ không có một con đường nào tốt nhất, chỉ có con đường phù hợp nhất với từng doanh nghiệp trong việc lựa chọn quảng cáo hay phân phối trong từng giai đoạn phát triển thị trường. Chính chúng ta, những chủ doanh nghiệp là người phải cân nhắc thực lực của chính mình, cùng với tình hình thực tế và dữ liệu thị trường (fact & Figure), để cân, đo, đong, đêm phương thức và chi phí cho phù hợp. Các yêu tố cần quan tâm, đó là: Người tiêu dùng tiềm năng của chúng ta là ai? Động thái và hành vi mua hàng của họ (như thế nào và tại sao)? Ai là đối thủ chính của chúng ta trên thi trường? Thế mạnh, điểm yếu của họ là gì và các chiến lược, chiến thuật của họ ra sao? Thế mạnh của chính bản thân chúng ta là gì? Lợi ích khác biệt nào của sản phẩm, dịch vụ của chúng ta se mang lại cho khách hàng?…
Câu trả lời cũng không thể đúng với mọi thời điểm. Thị trường luôn biến động, và vì vậy, phương thức của chúng ta cũng phải linh hoạt để nắm bắt cơ hội. Và như vậy, một lần nữa chúng ta nói rằng, chỉ có tính sáng tạo, tính sáng tạo và tính sáng tạo là con đường giúp con nhà nghèo của chúng ta phát triển.
Ngô Trọng Thanh
Bước ngoặt của sự thành đạt là quyết định “bán thân đúng giá”
Tết về quê, ngang làng nho, tôi vẫn ngóng vào ngôi nhà nhỏ ven bờ ruộng. Hai mươi năm nay nó vẫn thế. Cũng như anh, hai mươi năm không già đi tí nào. Người bé loắt choắt, mặt mũi thư sinh trắng trẻo như một cậu học sinh lớp 10.
Rồi ra trường, anh ra Nha Trang học Thủy sản, tôi vào Sài Gòn. Mười mấy năm không gặp nhau. Ngày nọ, anh xuất hiện trước cổng tòa soạn vào buổi tối.
Dưới ánh đèn đường lờ mờ bị khuất tàn cây, thấy anh vẫn như xưa. Quái chiêu là đi xe ôm và chở theo một… cây nước đá: “Mai nó mới tan hết, đừng lo, giờ rảnh thì đi lai rai. Lâu quá không gặp nên gửi cậu ít quà!”.
Thấy tôi khó hiểu, anh giải thích: “Năm ký vừa tôm vừa bạch tuộc xuất khẩu, mình cho đúc trong cây nước đá và gửi xe tải lên đây. Cậu về chặt nước đá ra, để vô tủ cấp đông, ăn dần”.
Hai thằng ra quán. Giờ anh làm gì? Mình làm giám đốc một công ty thủy sản. Công nhân đông không? Hơn hai trăm người, năm tới sẽ gấp đôi. Lương khá không? Lương không ăn thua, lương lính mình mới cao, nhưng lợi nhuận rất khá.
Lợi nhuận khá sao nó trả lương giám đốc bèo hơn lương lính? Tôi vừa hỏi vừa cảm thấy tội nghiệp anh, đi làm mười mấy năm mà vẫn áo thun và đi dép. Kể ra phận thằng trai quê miền Trung ly hương này chẳng khá gì.
Anh cười: không phải thế, đây là công ty của mình.
Tốt nghiệp Đại học Thủy sản, khoa chế biến, về quê không xin được việc làm, anh lội ngược ra Nha Trang xin làm thuê cho một công ty đông lạnh mới thành lập. Thi công xong hệ thống kho lạnh thì giám đốc nói hết việc dành cho anh. Lại đi xin ở công ty mới. Sau một thời gian, anh trở thành trưởng phòng kỹ thuật rồi phó giám đốc một công ty chuyên thi công kho lạnh. Làm việc với khách hàng, lâu ngày anh học được những bí quyết kinh doanh của họ.
Một chủ doanh nghiệp tư nhân tìm đến anh. Ông ta mở một công ty chế biến thủy sản xuất khẩu ở Kiên Giang, nhờ anh thiết kế và thi công hệ thống kho lạnh. Năm tháng sau, công trình hoàn thành. Anh trở về Nha Trang.
Một tháng sau đó, ông ta quay ra Nha Trang: “Tôi muốn mời anh làm Phó giám đốc, lương khởi điểm hai ngàn!”.
Mức lương cao gấp bốn lần thu nhập của anh.
- Dĩ nhiên là tôi từ chối. Anh trả lời trước sự ngạc nhiên của ông ta.
– Anh không chấp nhận mức lương, môi trường làm việc hay là…?
- Tôi không nhận lương, nhưng tôi muốn ông trả cho tôi 40% lợi nhuận của công ty. Xem như sự có mặt của tôi đã góp vào đó bốn phần mười tổng vốn.
Vị này tưởng anh đùa, bảo anh nghĩ lại. Anh dứt khoát: Ông có nghĩ thì nghĩ, còn tôi không nghĩ lại.
Một tuần sau, họ gặp lại. Anh đưa cho ông ta bản kế hoạch kinh doanh và chấp nhận làm ăn lương hai tháng đầu. Từ tháng thứ ba, anh không nhận lương. Yêu cầu 40% lợi nhuận được chấp thuận.
Công ty từ ngày có anh liên tục phát triển. Ba năm sau nữa, giữa lúc lợi nhuận đang cao, anh nói lời chia tay với ông chủ công ty. Ông hỏi: Đã đến lúc cậu làm ông chủ phải không? Anh gật đầu. Ông bảo: Tôi biết, cám ơn anh vì sự cộng tác mấy năm qua. Anh lựa hướng đi đúng rồi!
Anh xúc tiến thành lập công ty chế biến thủy sản của riêng mình.
Ngồi nhậu, anh cứ kè kè túi xách to đùng, trong đó là chiếc laptop. Chốc chốc lại nghe điện thoại vè chuyện giao hàng, xuất hàng. Xe hơi chưa mua, đi đâu thì Phó giám đốc đi taxi, còn anh thì suốt ngày dưới xưởng.
Lần sau lên Sài Gòn, anh rủ tôi đi ăn ở một nhà hàng khá sang, với một doanh nghiệp Hàn Quốc, đối tác của anh. Ông người Hàn bảo hai năm nay, ông ta thu hết mối làm ăn với các doanh nghiệp khác, giao cho anh.
Anh bảo: mỗi tháng, mình xuất gần chục container hàng, giờ ổn rồi. Công ty bắt đầu có uy tín với bạn hàng.
Đi công tác Cà Mau với Tổng và Phó tổng biên tập, khi xe qua phà Tắc Cậu về Kiên Giang, tôi rủ hai sếp ghé thăm anh. Anh hồ hởi khoe vừa có một phái đoàn từ châu Âu qua kiểm tra quy trình chế biến trước khi đặt hàng: “Mình lùi xùi thế này nhưng nhà xưởng thì phải hiện đại và sạch sẽ”. Rồi anh dẫn chúng tôi tham quan công ty, đi khắp nhà máy, nhưng không hề nghe mùi hôi.
Hỏi anh quyết định “bán thân” với giá 40% lợi nhuận của công ty dạo nọ, có là .. quá đáng? Anh cười: Cái chính là liên tục những năm trước đó, mình cố gắng học hỏi và làm việc như điên để gia tăng giá trị cho mình. Cuối cùng phải định giá đúng bản thân mình, biết ai là người có thể mua và bán đúng giá.
Anh chàng hái rau heo, bóc vỏ tôm ngày nào; thằng học trò quê gò lưng đạp xe cả chục cây số đi học ngày nào; chàng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày nào, giờ là ông giám đốc thành đạt.
Bước ngoặt của sự thành đạt là quyết định “bán thân đúng giá”.
* Tác giả là Tổng thư ký tòa soạn báo Pháp luật Tp.HCM. Bài viết được trích từ blog của anh.
Website và Thương hiệu trực tuyến
Trực tuyến là việc DN nên làm nhưng làm sao để có thương hiệu lại hoàn toàn khác. Các DN bán lẻ đều cần có sự hiện diện trực tuyến; một website tốt tự nó phản ánh các giá trị và thương hiệu.

Tuy nhiên đó mới chỉ là sự khởi đầu, với DN – muốn thành công trực tuyến thì phải nắm lấy sự tuỳ biến, các cộng đồng và hợp lực sáng tạo; người tiêu dùng cần sự tiện lợi, tin cậy và cá nhân hoá.
Internet giờ đây không còn là kho chứa các thông tin tĩnh và sử dụng để tìm kiếm nữa, nó trở thành công cụ cho truyền thông và giao dịch; cuộc cách mạng web 2.0 đã cung cấp cho Doanh nghiệp những công nghệ và ý tưởng mới cho phép mọi người cùng tham gia với thông tin trên mạng Internet và khiến chúng trở nên động và phù hợp hơn.
Doanh nghiệp cần phải làm rất nhiều để phát triển sự hiện diện và thương hiệu trực tuyến, thành quả là giúp khách hàng thỏa mãn hơn.
Chúng ta điều biết người tiêu dùng cao cấp muốn sự tiện lợi và cá nhân hoá, vấn đề của Doanh nghiệp là làm sao thoả mãn trải nghiệm cao cấp của họ. Giải pháp là tạo ra những site lý tưởng, những site mở rộng thương hiệu để tạo sự khác biệt. Trong một số trường hợp, sự cao cấp tự nó đã làm công việc này mặc dù đó chỉ là hiện tượng nhất thời.
Ý nghĩa của Website vượt ra ngoài giới hạn một cuốn catalogue – web site không chỉ là một kênh bán hàng cho cả khách hàng hiện tại và tiềm năng – đặc biệt trong những thị trường mà khách hàng không hiện diện dưới hình thức vật lý, bị chia cắt bởi khoảng cách thời gian và không gian; mà còn giảm chi phí và tăng hiệu quả của truyền thông tới người tiêu dùng.
Website truyền tải thông điệp của thương hiệu 24/7 tới phân khúc khách hàng và cho phép người tiêu dùng điều khiển cách để họ tương tác với chúng; cho phép site tương tác dựa trên các điều kiện của riêng site với các mức độ tiếp cận khác nhau để thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng.
1. Một số tiêu chuẩn để đánh giá một web site thành công
- Bố cục có tính thẩm mỹ, nội dung có giá trị thông tin cao, cuốn hút và làm giảm nỗ lực đọc;
- Đơn giản, định hướng thị giác;
- Nội dung phong phú mỗi khi người sử dụng lựa chọn xem sâu một sản phẩm cụ thể;
- Tích hợp hài hoà với trải nghiệm ngoại tuyến ;
Doanh nghiệp có thể có đội ngũ kỹ thuật tốt có khả năng thẩm mỹ và biên tập nội dung cuốn hút, tuy nhiên như vậy vẫn chưa đủ để xây dựng thương hiệu trực tuyến. Doanh nghiệp cần đi xa hơn, đi vào thế giới của web 2.0 với những cơ hội để cá nhân hoá site và xây dựng site dựa trên trong các thành tố của chia sẻ hoặc truyền thông xung quanh nội dung.
2. Thanh định hướng
* Thanh định hướng đánh dấu các mục trong một Hồ sơ năng lực, Hồ sơ công ty đại chúng
* Cấu trúc site đơn giản, rõ ràng, khoảng cách giữa các click chuột ngắn nhất có thể, có thanh định hướng breadcrumb để người sử dụng dễ dàng định hướng lại
* Mô phỏng cách phân loại sản phẩm và dịch vụ của người tiêu dùng, may đo các menu để giảm thiểu sự mập mờ và tăng tối đa tốc độ tiếp cận nội dung mong muốn.
* Đầu tư phát triển các thẻ metadata của sản phẩm và tính năng tìm kiếm, đưa thêm bộ lọc đặc tính sản phẩm và tìm kiếm dựa trên quyết định
3. Nội dung phong phú
* Chìa khoá dẫn đến nội dung phong phú là điều khiển của người sử dụng – cho phép người sử dụng khám phá sản phẩm qua video trực tuyến, tính năng phóng to, thu nhỏ và xoay hoặc các công cụ thiết kế cho phép người sử dụng trải nghiệm sản phẩm trực tuyến phong phú như trải nghiệm ngoại tuyến
* Thêm nội dung xung quanh các sản phẩm như vodcast và podcast, việc tạo trải nghiệm phong phú sẽ cuốn hút cả những khách hàng khó tính nhất.
* Trải nghiệm phong phú này sẽ có giá trị nếu Doanh nghiệp liên kết tới sản phẩm được bán. Web site phải đảm bảo người sử dụng nhấn tới trang mua hàng từ mục tương tác với sản phẩm
4. Tích hợp những trải nghiệm ngoại tuyến và trực tuyến
* Việc triển khai hai kênh chỉ thành công nếu Doanh nghiệp biết phối hợp sức mạnh của mỗi kênh và đưa vào chiến dịch những gì Doanh nghiệp học hỏi được từ từng khách hàng riêng biệt trên mỗi kênh
* Tổ chức hợp lý các sự kiện và truyền thông trực tuyến và ngoại tuyến
* Cho phép khách hàng sử dụng bất cứ kênh nào phù hợp với họ chẳng hạn mua sắm trực tuyến hoặc lấy hàng hoá tại cửa hàng.
* Nghiên cứu cho thấy, nếu những trải nghiệm mua hàng trực tuyến của người sử dụng không được coi trọng, 82% hầu như không quay lại site, 55% không còn đánh giá cao nhà bán lẻ và 28% không tới cửa hàng của người bán lẻ. Trải nghiệm trực tuyến không thể đứng riêng rẽ.
5. Cá nhân hoá
* Khi khách hàng đăng ký trên site của Doanh nghiệp, hệ thống hỏi họ thích điều gì, làm thế nào để liên hệ với họ hoặc họ có muốn cập nhật thông tin từ site để từ đó tuỳ biến cho phù hợp chương trình marketing
* Giữ dữ liệu thông tin cá nhân luôn chính xác bằng việc theo dõi khách hàng phản hồi ra sao, làm thế nào để họ sử dụng site cũng như tích hợp thông tin trực tuyến với cơ sở dữ liệu Quản trị quan hệ khách hàng ngoại tuyến.
* Cho phép khách hàng tuỳ biến dựa trên trải nghịêm của họ – tự họ thiết kế trang sử dụng hoặc tạo ra danh mục mong muốn – để tạo cảm giác cao cấp một cách chân thực dựa trên sự cá nhân hoá. Một trong những giải pháp là sử dụng RSS để cho phép khách hàng tạo liên kết tại những trang cụ thể trong site của bạn và người sử dụng có thể kéo nội dung tới bất kỳ trang chủ nào mà họ muốn.
Khách hàng là những người ủng hộ thương hiệu chính, nếu Doanh nghiệp làm site trở nên dễ dàng trong việc chia sẻ những phấn khích của họ về thương hiệu và sản phẩm tới bạn bè; cho phép họ chuyển tiếp một trang sản phẩm tới bạn bè hoặc gửi lời mời khuyến khích một người bạn đăng ký trên site thì thương hiệu của Doanh nghiệp sẽ có sức mạnh lan toả hơn.
Ứng dụng việc cá nhân hoá vào web mới chỉ có một nửa của sự thành công, Doanh nghiệp cần đưa thế giới đến gần Thương hiệu trên site bằng việc lái người sử dụng tới site và tạo một hiệu ứng lan toả qua các nỗ lực PR, tài trợ, sự kiện.
Nếu Doanh nghiệp gửi email tới một khách hàng mời họ tới lễ khai trương, Doanh nghiệp nên cho phép họ chia sẻ điều này với những người bạn thân của họ bằng việc chuyển tiếp lá thư. Chỉ một động tác nhỏ có thể tạo ra sự thay đổi lớn.
Theo Kinh Doanh


Phản hồi mới nhất